Dạy Toán theo phương pháp Glenn Doman

10:38 |

I. Dụng cụ

- Dụng cụ : 1 bộ dot card gồm 101 thẻ.

- Cách làm: cắt 101 giấy bìa cứng kích thướt 30x30cm dày 1cm. Cắt decal 5050 chấm đường kính 1.5cm.
- Cách dán: không được dán thẳng hàng, khoảng cách các chấm không được đều nhau. Dán từ trong ra ngoài.

II. Phương pháp dạy

1. Bắt đầu dạy trẻ từ 3-6 tháng

Nếu trẻ bắt đầu muộn hơn xin hãy đọc phần đúng độ tuổi của trẻ rồi quay lại đọc phần này.
Ngày đầu tiên: Soạn sẵn 10 thẻ từ 1-10. Cầm thẻ 1 lên vừa cho xem vừa đọc to rõ “một”. Xoay 1 cạnh tiếp tục đọc “một. Như vậy 1 thẻ trẻ sẽ được nghe 4 lần cho mỗi thẻ. Lần đầu tiên cho trẻ nhìn thẻ từ 1-10 theo đúng thứ tự. Các lần khác trong ngày không theo thứ tự. 

Mỗi ngày cho xem ít nhất là 3 lần.
Ngày thứ 2 đến ngày thứ 5: cũng cho trẻ nhìn từ 1-10 nhưng không theo thứ tự. Lưu ý là số ngày này không cố định. Khi cảm thấy trẻ không chú ý thì lập tức thay thẻ theo nguyên tắc dưới đây.

Ngày thứ 6: bỏ 2 thẻ 1 và 2, cho thêm 2 thẻ 11 và 12 vào. Lần đầu tiên cho nhìn theo thứ tự. Các lần khác trong ngày không theo thứ tự.
Ngày thứ 7: bỏ 2 thẻ 3 và 4, cho thêm 2 thẻ 13 và 14 vào. Lần đầu tiên cho nhìn theo thứ tự. Các lần khác trong ngày không theo thứ tự.
Tương tự như vậy đến ngày thứ 10: vẫn cho xem 10 thẻ từ 11 đến 20.

Như vậy là ngày nào cũng cho xem 10 thẻ (bỏ 2 thẻ nhỏ thêm 2 thẻ lớn). Đồng thời bắt đầu cho xem phương trình.

Bắt đầu bằng phép cộng. Một lần cho xem 3 phương trình ví dụ : 3+5=8, 10+6=16, 4+7=11. Mỗi ngày cho xem 3 lần ngay sau khi cho xem 10 thẻ. Ba lần cho xem các phương trình đều khác nhau. Như vậy 1 ngày trẻ sẽ được xem 10 thẻ và 9 phương trình.

Cách cho xem phương trình như sau: cầm thẻ 3 lên đọc “ba”, bỏ thẻ 3 xuống đọc “cộng”, cầm thẻ 5 lên đọc “năm”, bỏ thẻ 5 xuống đọc “bằng” cầm thẻ 8 lên đọc “tám. Phép cộng chỉ nằm trong khoảng 20 thẻ đầu. Bạn đừng lo là hết phép tính . Chỉ với 20 thẻ bạn có tới 190 phép tính cộng. Lưu ý là không được xếp 3 phép cộng theo thứ tự liên tiếp như sau: 1+1=2, 1+2=3, 1+3=4 mà các phép cộng được xếp ngẫu nhiên. Có thể tham khảo các phép sau đây:

Ngày 11: 1+12=13, 4+5=9, 16+3=19. Các thẻ từ 13 đến 22.

Ngày 12: 2+9=11, 8+5=13, 10+9=19. Các thẻ từ 15 đến 24.

Ngày 13: 3+7=10, 1+5=6, 8+9=17. Các thẻ từ 17 đến 26.

Ngày 14: 3+9=11, 8+5=13, 10+9=19. Các thẻ từ 19 đến 28.

Ngày 15: 1+2=3, 4+16=20, 6+9=15. Các thẻ từ 21 đến 32.

Ngày 16: 2+16=18, 1+11=12, 2+3=5. Các thẻ từ 23 đến 34.

Ngày thứ 17: Khi trẻ đã học phép cộng được 1 tuần thì lập tức cho chuyển sang học phép trừ cũng tương tự phép cộng. Chỉ sử dụng 20 thẻ đầu tiên cho phép trừ.

Ngày thứ 24: Như vậy đến đây trẻ đã biết 48 thẻ và 2 phép cộng trừ đơn giản.Bây giờ bạn có thể cho học phép cộng hoặc trừ đến 48. Ví dụ 1 ngày cho coi 3 lần. Một lần 3 phép như sau:

20+4=24, 19+10=29, 40-10=30. Một ngày trẻ được xem 9 phương trình cả cộng cả trừ.

Làm tương tự trong 1 tuần.

Ngày thứ 31: Đến đây trẻ đã được giới thiệu đến thẻ 62. Lập tức chuyển qua phép nhân. Một ngày cho xem 3 lần, 1 lần 3 phép nhân ví dụ : 2x3=6, 5x6=30, 9x4=36.

Ngày thứ 38: Đến đây trẻ đã được giới thiệu đến thẻ 76. Lập tức chuyển qua phép chia chẵn (chú ý không được giới thiệu phép chia có dư). Một ngày cho xem 3 lần, 1 lần 3 phép chia ví dụ : 18/3=6, 72/8=9, 6/3=2.

Ngày thứ 45: Đến đây trẻ đã được giới thiệu đến thẻ 90. Bây giờ ta có thể dạy cả phép chia và phép nhân chung 1 ngày. Ví dụ như: 24/8=3, 3x5=15, 90/3=30.

Ngày thứ 50: Đến đây trẻ đã được giới thiệu đủ 100 thẻ. Đến đây bạn có thể dạy tất cả những gì bạn muốn. Tất cả các phép cộng trừ nhân chia sử dụng đến thẻ 100. Kể cả phép cộng hoặc nhân với 0. Bạn không cần phải giới thiệu lại các thẻ nữa. Mỗi ngày giới thiệu 9 phương trình. Chú ý đừng để thẻ nào lâu quá không xài.

2. Bắt đầu dạy trẻ từ 6-12 tháng

Nếu trẻ bắt đầu muộn hơn xin bỏ qua phần này và đọc phần tiếp theo.

Ở giai đoạn này trẻ đã bắt đầu có sở thích và sở ghét. Vì vậy việc dạy sẽ khó hơn từ 3-6 tháng. Bạn vẫn áp dụng trình tự giống như trẻ từ 3-6 tháng. Nếu trẻ không chú ý thì bạn bỏ bớt giai đoạn đọc 4 lần 1 thẻ. Bạn chỉ cần giơ 1 thẻ lên đọc một lần duy nhất. Tốc độ nhanh lên và số lần xem 1 ngày cũng nhiều hơn có thể là 4 hoặc 5 lần.

3. Bắt đầu dạy trẻ từ 12-24 tháng.

Nếu trẻ bắt đầu muộn hơn xin bỏ qua phần này và đọc phần tiếp theo.

Ở giai đoạn này trẻ cực kì hiếu động. Việc dạy sẽ khó hơn rất nhiều so với trẻ bắt đầu từ 3-12 tháng. Bạn vẫn áp dụng trình tự giống như trẻ từ 3-6 tháng. Nhưng giới thiệu 1 thẻ chỉ cần cho đọc 1 lần thay vì 4 lần. Một ngày chỉ nên học 7 thẻ (bỏ 2 thẻ cũ, thêm 2 thẻ mới). Bạn cũng phải kiên nhẫn hơn giai đoạn 6-12 tháng đó là 1 ngày phải cho trẻ xem ít nhất là 5 lần.

4. Bắt đầu dạy trẻ từ 24-30 tháng.

Nếu trẻ bắt đầu muộn hơn thì phương pháp này không còn thích hợp cho trẻ nữa. Bạn nên tìm phương pháp khác dạy sẽ tốt hơn.

Ở giai đoạn này trẻ muốn tự mình khám phá. Vì vậy việc dạy sẽ khó hơn rất nhiều so với trẻ bắt đầu từ 3-24 tháng. Bạn vẫn áp dụng trình tự giống như trẻ từ 3-6 tháng. Nhưng giới thiệu 1 thẻ chỉ cần cho đọc 1 lần thay vì 4 lần. Tốc độ phải nhanh (1 giây 1 thẻ). Một ngày chỉ giới thiệu 5 thẻ (bỏ 2 thẻ cũ thêm 2 thẻ mới). Bạn cũng phải kiên nhẫn hơn giai đoạn 6-12 tháng đó là 1 ngày phải cho trẻ xem ít nhất là 8 lần và tốt nhất là 10 lần.

III. Các nguyên tắc khi dạy

1. Bắt đầu càng sớm càng tốt.
2. Chuẩn bị đầy đủ tài liệu trước khi bắt đầu.
3. Chỉ dạy khi trẻ vui vẻ.
4. Không kiểm tra trẻ xem có nhớ hay không.

Mục lục phương pháp dạy con kiểu nhật

09:53 |
PHẦN A. CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC GIAI ĐOẠN 0-4 TUỔI

I. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TỪ 0-1 TUỔI
Giai đoạn thứ nhất từ 0-3 tháng
a) Thị giác
b) Thính giác
c) Xúc giác
d) Vị giác
e) Lực nắm
f) Khứu giác
Giai đoạn thứ hai, từ 4-6 tháng
a) Thị giác
b) Thính giác
c) Xúc giác
Giai đoạn thứ 3 từ 7-10 tháng
a) Thị giác
b) Thính giác
c) Xúc giác
d) Vận động
e) Ngôn ngữ
II. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ TỪ 2-3 TUỔI
Cho trẻ vận động nhiều, đi bộ nhiều
Thời kì nhạy cảm với ngôn ngữ nhất trong cả cuộc đời
Làm thoả mãn ý muốn muốn làm những việc xung quanh mình một cách thành thạo
Thời kì phản kháng đầu tiên khi trẻ 2 tuổi- làm sao vượt qua?
Trẻ 2 tuổi là người có trí nhớ thiên tài
III. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ TỪ 3-4 TUỔI
3 tuổi là bắt đầu tư duy
Trợ giúp 50% để trẻ thực nghiệm được nhiều việc, 3 tuổi là thời kì tự lập
Bồi dưỡng khả năng ngôn ngữ bằng cách nói chuyện hay đọc sách truyện cho trẻ
Không làm gì phải lo lắng với tật nói lắp của trẻ thời kì này
Nên bắt đầu dạy ngoại ngữ cho trẻ trong thời kì này
Cứ để trẻ chơi không thôi sẽ có tác hại
Sở thích chệch (sở thích khác người) nuôi dưỡng năng lực tập trung và trí lực của trẻ giai đoạn này
IV. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ SAU 4 TUỔI
Trẻ 4 tuổi có sức sáng tạo rất phong phú. Trẻ thích sáng tạo rất thích chơi
Khả năng tư duy mang tính sáng tạo độc đáo là khả năng thế nào?
Để trẻ thành người có sức sáng tạo cao
Phương pháp giáo dục trẻ hơn 4 tuổi thì có những điểm quan trọng như sau.
PHẦN B. KHI GẶP KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY CON

I. Ý THỨC TRƯỚC RẰNG DẠY CON LÀ DẠY TỪ KHI MỚI LỌT LÒNG
3 trụ cột để trẻ lớn lên và tầm nhìn của cha mẹ
Nhìn nhận đúng tín hiệu phát triển của con trẻ
Đỉnh điểm xây dựng lòng tin cơ bản nơi trẻ là khi trẻ được 8 tháng tuổi
Khi có thêm em bé cũng không được quên yêu thương anh chị nó
II. DẠY CON NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN, THÀNH HAY BẠI LÀ Ở GIAI ĐOẠN TỪ 1 ĐẾN 3 TUỔI
Gốc rễ của lễ nghĩa là giáo dục ý chí
Đường cong nghiêm khắc * khắt khe nhất khi 0 tuổi và nới lỏng dần khi 3 tuổi
4 nguyên nhân gây ra sự bất tuân thủ của trẻ
III. 3 TRỤ CỘT ĐỂ DẠY CON CÓ LỄ NGHĨA ĐÚNG
“lễ nghĩa cơ bản” thực hiện trong sinh hoạt hàng ngày
a) Về việc ăn uống
b) Về việc đi vệ sinh
c) Về việc mặc
d) Về việc giữ vệ sinh
e) Về việc giữ an toàn
“lễ nghĩa tinh thần” thì chú ý khi mắng mỏ
a) Chịu đựng
b) Tốt bụng
c) Trung thực
d) Tuân thủ
e) Biết ơn
“lễ nghĩa xã hội và đạo đức” hãy tận dụng tốt nhất tính tự giác của bé.
a) Tinh thần trách nhiệm.
b) Tinh thần lao động.
c) Đối nhân.
d) Tri thức ngôn ngữ.
e) Tính đạo đức
PHẦN C. BÍ QUYẾT DẠY CON

I. ĐỂ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TỪ 0 TUỔI PHÁT HUY HẾT TÍNH HIỆU QUẢ
II. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TỪ 1-2 TUỔI
III. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TRẺ 3 TUỔI

Makoto Shichida

09:49 |

Mục đích chính của giáo dục não phải là để khơi dậy các tiềm năng và tài năng của trẻ em, vốn đã hiện diện ở bán cầu não phải.


“Mục đích chính của giáo dục não phải là để khơi dậy các tiềm năng và tài năng của trẻ em, vốn đã hiện diện ở bán cầu não phải.” - Shichida Makoto.

Shichida Makoto là một nhân vật rất được kính trọng ở Nhật Bản và châu Á. Bên ngoài Nhật Bản, các trung tâm học sớm sử dụng phương pháp Shichida có thể được tìm thấy ở Malaysia và Singapore.

Cuộc cách mạng về Phương pháp của Shichida kết hợp các kỹ thuật kích thích não của trẻ em cũng như giúp họ phát triển các khả năng đặc biệt, trong độ tuổi từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi.

Phương pháp Shichida đang được sử dụng tại Nhật Bản trong hơn 25 năm, dựa trên 40 năm nghiên cứu áp dụng các kỹ thuật kích thích sự phát triển sớm của não bộ.

Phương pháp này được dựa trên các nguyên tắc sau.

Tất cả trẻ em sinh ra là thiên tài.
Liên kết cha mẹ và con là vô cùng quan trọng.
Sự thống trị não phải của trẻ em rất trẻ trình bày cơ hội duy nhất cho việc học tập.
Trẻ em phải được kích thích thông qua tất cả năm giác quan.
Lặp đi lặp lại và nhất quán là chìa khóa để thành công trong giảng dạy.

Tiến sĩ Maria Montessori

09:46 |

Tiến sĩ Maria Montessori là chuyên gia người Italia trong nhiều lĩnh vực như triết học , nhân văn học, giáo dục học, bà cũng là nữ bác sĩ đầu tiên của Italia. Bà đã xây dựng và phát triển phương pháp giáo dục Montessori, và là người phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục lứa tuổi mầm non.


Tiến sĩ Maria Montessori ( 31/8/1870 – 6/5/1952 ) là chuyên gia người Italia trong nhiều lĩnh vực như triết học , nhân văn học, giáo dục học, bà cũng là nữ bác sĩ đầu tiên của Italia. Bà đã xây dựng và phát triển phương pháp giáo dục Montessori, và là người phụ nữ có ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục lứa tuổi mầm non.

Năm 1907 bà bắt đầu sự nghiệp là nhà giáo dục khi bà được mời tổ chức 1 trường trong khu tái định cư ổ chuột khu vực San Lorenzo, Italia. Trong giai đoạn này bà đã quan sát thấy rằng trẻ em hoàn toàn bị cuốn hút bởi các vật dụng và chất liệu được thiết kế để trợ giúp sự cảm nhận của giác quan. Sau một thời gian nghiên cứu và quan sát trẻ, tiến sĩ Montessori đã khẳng định tầm quan trọng thiết yếu trong sự phát triển 6 năm đầu đời của một đứa trẻ. Trong giai đoạn này, khả năng nhận thức của trẻ sẽ tác động tới những hành vi, chuẩn mực về giáo dục trong suốt quãng đời sau này của bé.

Phương pháp Montessori chấp nhận sự tự do cá nhân của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tuỳ theo những khả năng riêng của mình. Do đó việc tổ chức các lớp học theo mô hình Montessorri phải đảm bảo sự tôn trọng tính riêng biệt của mỗi trẻ và phải bố trí phòng học và bài học phù hợp những nhu cầu và mục đích của mỗi em.

Với thành công vang dội của phương pháp Montessori, Tiến sĩ Maria Montessori đã được mời tới khắp nơi trên thế giới để thuyết trình về phương pháp giáo dục mới này. Có hàng trăm nước trên thế giới đã thành lập những trường mầm non áp dụng phương pháp giảng dạy của bà. Tiến sĩ Montessori đã để lại cho nhân loại một di sản tuyệt vời, một triết lý về cuộc sống, một phương pháp độc đáo trong giáo dục, và tất cả những điều này đã đem lại cho trẻ em một nền tảng vững chắc cho cuộc sống trong tương lai.

Giáo dục sớm - Phương pháp Montessori (P2)

07:54 |
Phương pháp Montessori được dựa vào những điểm thiết yếu là:

Trẻ em cần nhận được sự trân trọng của người lớn như những cá thể riêng biệt.
Trẻ em có một sự nhạy cảm đặc biệt kèm theo khả năng trí tuệ để tiếp thu và học hỏi từ môi trường bên ngoài mà không giống như của người lớn cả về năng lực và cấp độ.
Sáu năm đầu đời của trẻ là khoảng thời gian quan trọng nhất tạo tiền đề cho sự phát triển sau này khi mà từ việc học mà chơi , chơi mà học trẻ sẽ dần dần hình thành thói quen học tâp nghiêm túc.
Trẻ nhỏ có niềm ham mê khám phá ngay từ khi còn rất nhỏ nên chúng cần người lớn hướng dẫn những hoạt động có chủ đích . Tuy nhiên chúng hoạt động không  như cách người lớn hoàn thành công việc của mình mà đơn giản chỉ là thích hoạt động mà thôi . Nhưng thông qua những hoạt động đó sẽ giúp trẻ đạt được mục tiêu quan trọng nhất : đó là tự mình phát triển bản thân đầy đủ về thể chất cũng như tinh thần.

Giáo cụ



Các giáo cụ giảng dạy cần hỗ trợ cho sự hình thành bên trong của trẻ. Giáo cụ phải phù hợp với nhu cầu bên trong của trẻ. Điều này có nghĩa là giáo cụ học tập cần được áp dụng vào đúng thời điểm theo sự phát triển của trẻ.

Mỗi một giáo cụ cần có một mục đích cụ thể và có ý nghĩa đối với trẻ.
Các giáo cụ được phát triển từ đơn giản đến phức tạp về nội dung và hình thức.
Các giáo cụ được thiết kế để chuẩn bị gián tiếp cho việc học tập trong tương lai của trẻ.
Các giáo cụ được bắt đầu như một biểu hiện ở dạng vật chất về một ý tưởng và sau đó trở nên trừu tượng hơn.
Chất liệu của giáo cụ được thiết kế cho sự tự học, tự khám phá của trẻ. Sự kiểm soát các lỗi nằm ở chính chất liệu, chứ không phải ở giáo viên.
Chương trình

Phương pháp Motessori tập trung vào 5 lĩnh vực:

Thực hành cuộc sống: Trẻ được học cách thắt dây giầy và mặc áo khoác, tự chuẩn bị đồ ăn và uống đơn giản, tự đi vệ sinh và có thể tự dọn dẹp sau khi dây bẩn.
Giáo dục phát triển giác quan: Các bài tập dành cho trẻ đảm bảo trẻ phải sử dụng cả 5 giác quan để thực hiện.·
Nghệ thuật ngôn ngữ : Trẻ được khuyến khích thể hiện, bày tỏ bản thân mình bằng lời, trẻ được hướng dẫn cách nhận mặt chữ và tô chữ - thời kỳ đầu chuẩn bị để học đọc, đánh vần, ngữ pháp và kỹ năng viết.
Toán học và hình học: Trẻ được làm quen với các con số thông qua các tài liệu giảng dạy do giáo viên phát.
Các chủ đề về văn hoá: Trẻ được học về các đất nước (địa lý), động vật, thời gian, lịch sử, âm nhạc, chuyển động, khoa học và nghệ thuật.

1. Cuộc sống thực tế.

Trẻ học cách tự chăm sóc mình và môi trường của chúng thông qua các công việc "thực tế". Trước tiên, trẻ được dạy cách đổ nước một cách hoàn chỉnh và học cách lau sạch nếu có giọt nước nào rớt ra hay tràn ra. Ngay khi trẻ thành công trong hoạt động này, chúng sẽ được chuyển đến các hoạt động phức tạp hơn như rửa tay, lau đĩa, đánh giầy, lau gương. .v.v.. Với mỗi bài tập, trẻ sẽ tăng cường được khả năng phối kết hợp giữa các bàn tay, cánh tay và các ngón tay. Khi chúng học các bài học lau và đánh bóng, chúng phải học cách chú ý đến những sự không hoàn thiện nhỏ nhất trong công việc chúng đang làm. Điều này làm tăng sự tập trung của trẻ và thúc đẩy những thói quen làm việc cách trổi vượt đến độ sau đó chúng có thể dùng những kỹ năng này trong các công việc học đường.

2. Về giác quan hay cảm giác:

Các hoạt động về giác quan hay cảm giác giúp trẻ khám phá thế giới qua các giác quan của chúng. Những miếng màu phải được ghép lại, nhận diện và sắp xếp từ màu tối nhất đến màu sáng nhất. Trẻ phải ghép những thứ có mùi vị giống nhau thông qua việc dùng ống trụ để ngửi....

3. Ngôn ngữ :

Trẻ được giới thiệu các âm của chữ cái qua các con chữ cái trên giấy. Chúng sẽ rượt theo mỗi chữ cái và phát cái âm của chữ đó. Sau đó, chúng sẽ bắt đầu ghép các âm này lại với nhau để thành lập các từ với các bảng chữ cái có thể tháo rời và chuyển chỗ được, một bảng chữ cái bằng nhựa. Thậm chí các em có vấn đề về viết còn có thể đánh vần các từ với bảng chữ cái cơ động nếu chúng đã học được các âm của chữ cái. Đồng thời, trẻ cũng được cung cấp giấy, bút nhớ dòng, bút chì màu và đen trắng, bút sáp màu và phấn để trẻ thường xuyên dùng nó để viết chữ và dùng cho kỹ năng vẽ, vẽ chữ để diễn tả những gì trẻ thích. Mỗi ngày trẻ cũng phải vẽ và viết trên những giấy to như tờ báo. Trẻ được vẽ tự do hay viết tự do về những gì làm chúng cảm thấy thích. Vào cuối năm học, các tờ vẽ đó được gưỉ về gia đình của trẻ...

4. Toán học:
Trẻ sẽ học nhận diện con số từ 1-9, sử dụng các con số cát trên giấy, cũng giống như các chữ cái cát trên giấy. Rất nhiều chất liệu trong gia đình có thể tận dụng làm việc này rất hiệu quả để giúp trẻ đếm và ghép các số lượng với số viết. Khi trẻ đã đạt được một số kỹ năng trong việc đếm đồ vật, trẻ được giới thiệu về phép cộng và trừ, khi đó trẻ sẽ dùng những chất liệu trên để hình dung ra câu trả lời. Khi trẻ đã thành công với phép cộng và trừ, chúng sẽ được dạy nhân và chia, điều này phục thuộc vào mối hứng thú và khả năng của trẻ.. Một lần nữa, trẻ sẽ dùng những đồ vật thật để hình dung ra câu trả lời, do đó trẻ có thể hiểu được quá trình đó diễn ra chứ không chỉ đơn thuần là nhớ các công thức.

5. Địa lý:
Đầu tiên trẻ được giới thiệu quả địa cầu với phần đất phủ bằng giấy màu đất và phần nước sơn màu xanh với bề mặt mịn. Điều này làm cho trẻ có ấn tượng cụ thể đối với lục địa. Tiếp theo là các hình thức chơi đố ô chữ với bản đồ thế giới. Trẻ học tên của các lục địa và chú tâm đến những khác biệt về kích cỡ và hình dạng. Bước tiếp theo là trò đố chữ với từng lục địa riêng biệt, trẻ sẽ học tên và địa điểm của các đất nước trong mỗi lục địa. Chẳng bao lâu sau trẻ sẽ có cảm giác cụ thể giúp cho sự hình dung ra thế giới của chúng và nơi chúng đang sống....

"Mục đích của chúng tôi là không chỉ làm cho trẻ hiểu, nhưng lại không buộc trẻ phải ghi nhớ chúng, trái lại, chúng tôi chạm đến sự tưởng tượng của trẻ để thúc đẩy tiềm năng nội tâm của trẻ." Dr. Maria Montessori

Tất cả các lĩnh vực này gắn bó chặt chẽ với nhau theo cách bổ xung, hỗ trợ cho nhau. Đồ chơi và các dụng cụ học tập khác được bày trong lớp để trẻ có thể nhìn thấy và có lựa chọn cho riêng mình rồi quyết định một hoạt động - được gọi là "công việc" – theo sở thích của mình. Những sự lựa chọn bao gồm sách, xếp hình, tạo hình, phân vai... Sau khi trẻ làm xong "công việc", chúng sẽ cất đồ chơi vào giá và chuyển sang "công việc" khác. Lịch sinh hoạt hàng ngày cho phép trẻ có thời gian chơi một mình hoặc theo nhóm.

Khi hướng dẫn trẻ thì giáo viên có thể hướng dẫn từng trẻ một hoặc theo nhóm, nhưng hầu hết tất cả các trao đổi về "công việc" thì là do các trẻ với nhau. Trong các trường áp dụng phương pháp Montessori, giáo viên không phải là Người Hướng Dẫn duy nhất. Trẻ lớn hơn có thể giúp trẻ bé hơn làm thuần thục một kỹ năng mới. Đó là lý do mà mỗi lớp học đều bao gồm 2-3 độ tuổi khác nhau.

Nhận xét

Montessori là một phương pháp giáo dục hiệu quả và nổi tiếng, rất phổ biến ở Mỹ, Canada, Ấn Độ. Tuy vậy, do Montessori không đăng ký bản quyền cho phương pháp của mình nên việc xác định một lớp hay trường có thực sự dạy theo phương pháp này theo như quảng cáo hay không là công việc khá khó đối với phụ huynh học sinh. Nhiều khi phụ huynh chỉ bị hấp dẫn bởi cái tên hay vì sự đồn đại kháo nhau chứ không hiểu thực sự phương pháp Montessori là gì, cụ thể thế nào, và cũng không có một cấp thẩm quyền nào quan tâm đến việc này, vì chính họ cũng mơ hồ không kém các bậc cha mẹ. Thường họ chỉ chú trọng đến các trang thiết bị, và cơ sở vật chất, nếu thấy na ná như các giáo cụ của Montessory là được rồi, mà không hiểu rằng, giá trị của phương pháp này không nằm ở đó.

Một vấn đề nữa mà phụ huynh học sinh cần lưu ý là việc cho con cái theo học trường hay lớp theo phương pháp Montessori chỉ đạt hiệu quả cao khi môi trường gia đình cũng tương thích với phương pháp đó. Việc tạo ra một môi trường gia đình tương thích với môi trường giáo dục Montessori do vậy rất quan trọng, để tránh những tình huống nhà trường dạy một đằng về nhà bố mẹ đòi hỏi một nẻo. Ví dụ, trẻ em theo học trường Montessori thường được nhiều tự do, tự chủ, lựa chọn nhiều hơn. Nếu về nhà, bố mẹ lại áp đặt làm thay hết mọi thứ thì việc học của trẻ chả còn mấy hiệu quả nữa.

Việc cho con cái đi học theo phương pháp Montessori đòi hỏi phụ huynh phải thay đổi chính mình. Cách nhìn truyền thống về trẻ em so với cách nhìn của Montessori khác nhau. Theo truyền thống, trẻ em là đối tượng cần được người lớn dạy dỗ truyền đạt kiến thức để trưởng thành trở thành người lớn. Theo Montessori thì trẻ em là những ông thợ đang 'xây' mình trở thành những người lớn (he is building himself into an adult), vai trò của người lớn chỉ là hỗ trợ hay tạo điều kiện/môi trường thuận lợi cho điều đó diễn ra. Việc thay đổi góc nhìn này xem ra đơn giản nhưng lại ý nghĩa nó vô cùng to lớn...

Giáo dục sớm - Phương pháp Montessori (P1)

07:50 |

Phương pháp Montessori là một phương pháp giáo dục tiếp cận với trẻ. Đây là một cách để nhìn nhận và thấu hiểu thế giới trẻ thơ, và cũng là một cách nhìn tổng thể về sự phát triển và học hỏi của trẻ như thế nào, điều này đã được chuyển thành một phương pháp giáo dục có hệ thống dựa trên những nghiên cứu khoa học cụ thể.


Phương pháp giáo dục Montessori đã gặt hái được khá nhiều sự thành công khi có những phát triển không ngừng trong hơn 70 năm qua . Phương pháp giáo dục này đã được sử dụng hiệu quả với trẻ em, từ các trường hợp trí óc chậm phát triển, có những khuyết tật trên cơ thể đến những trường hợp phát triển bình thường và ngay cả với những trường hợp có khả năng tự nhiên đặc biệt trên khắp thế giới.

Lịch sử

Phương pháp giáo dục Montessory được phát triển do bà Maria Montessory (1870-1952) một bác sĩ nhi và cũng là một nhà tâm lý sáng lập năm 1907 tại Italy. Đây là phương pháp với tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vào việc học qua cảm giác. Năm 1907 bà bắt đầu sự nghiệp là nhà giáo dục khi bà được mời tổ chức một ngôi trường trong khu tái định cư ổ chuột khu vực San Lorenzo, Italia. tiếng Ý gọi là "Casa de Bambini" với 50 trẻ em . Bà nhận thấy rằng những trẻ em mà mọi người chẳng bao giờ có chút hy vọng thành công, lại là những trẻ học tập có tiến triển rất nhanh trong việc học tập trong khi các em làm việc độc lập trong những khu vực danh riêng cho các em. Bà đã phát triển nhiều chất liệu khác nhau nhằm cho phép các trẻ phát triển các kỹ năng thể lý, kỹ năng thần kinh, trong khi vẫn duy trì một mức tự chủ cao độ.

Trong giai đoạn này bà đã quan sát thấy rằng trẻ em hoàn toàn bị cuốn hút bởi các chất liệu được thiết kế để trợ giúp sự cảm nhận của giác quan. Từ đó, Montessori tiếp tục phát triển những sự trợ giúp dạy học chuyên biệt được dùng cho những trẻ trong môi trường thích hợp và tôn trọng những đặc tính riêng biệt của trẻ. Phương pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và cho phép trẻ phát triển tuỳ theo những khả năng riêng của mình và thời gian riêng của mình. Do đó việc tổ chức các lớp học theo mô hình Montessorri phaỉ đảm bảo sự tôn trọng tính riêng biệt của mỗi trẻ và phải bố trí phòng học và bài học phù hợp những nhu cầu và mục đích của mỗi em.

Đây là một cách rất tốt để giúp các nhà giáo dục và các ông bố bà mẹ nhìn nhận và tìm hiểu thế giới trẻ thơ. Đây là một cách nhìn tổng thể về sự phát triển và tiến trình học hỏi của trẻ như thế nào, những điều trên đã được chuyển thành một phương pháp giáo dục có hệ thống dựa trên nghiên cứu khoa học cụ thể của bà Maria Montessori.Phương pháp này đã gặt hái được thành công sau khi đã trải qua sự phát triển không ngừng trong hơn 70 năm qua và phương pháp giáo dục này đã được sử dụng hiệu quả trong việc giáo dục đối với các em ở dạng trí óc chậm phát triển, tật nguyền cơ thể cho đến những trường hợp phát triển bình thường và trường hợp có những khả năng tự nhiên đặc biệt trên khắp thế giới.

Triết lý

"Thông qua sự tương tác của trẻ với môi trường, thông qua hoạt động của đôi bàn tay, thông qua sự hoàn toàn tự động của trẻ hấp thu các khía cạnh đạo đức, xã hội, văn hoá, tri thức về thế giới quanh trẻ và thông qua sự hoàn toàn độc lập của trẻ, trẻ sẽ phát triển bản thân, phát triển cá thể riêng biệt của mình." Dr. Maria Montessori

Chương trình học Montessori ( hiện nay được áp dụng trên hơn 5.000 trường học ở Mỹ và Canada) nhấn mạnh tầm quan trọng và mối liên hệ giữa tất cả các vật thể sống, và nhu cầu của mỗi con người trong việc tìm được một công việc ý nghĩa cũng như một chỗ đứng cho riêng mình trong thế giới này. Học sinh theo chương trình này sẽ được học về các văn hoá khác nhau, động vật, thực vật cùng với các kỹ năng tập đọc, ngôn ngữ và các toán học. Giáo viên - hoặc còn gọi là "Người hướng dẫn" – đóng vai trò chỉ bảo cho từng trẻ, dựa vào khả năng thực của trẻ. Các chương trình học của Montessori khuyến khích trẻ có tính độc lập. Trẻ luôn luôn hỏi và nêu ý kiến nếu chúng muốn thử một hoạt động mới, nếu trẻ cần giúp đỡ hoặc nếu chúng cảm thấy chưa sẵn sàng. Sự hướng dẫn ở đây còn liên quan chặt chẽ đến các phụ huynh trong việc giáo dục con em mình - mối liên kết giữa giáo viên-học sinh-phụ huynh cần được chăm nuôi cẩn thận.

Montessori coi trọng hai năng lực nội sinh cho sự phát triển của một đứa trẻ là: Quá trình nhận biết và Khả năng nhận thức. Ba lĩnh vực mà Phương pháp Montessori nhằm tới sự phát triển tổng thể tính cách của trẻ là sự vận động của cơ thể, kích thích giác quan và các phát huy hoạt động trí tuệ.

Giáo dục sớm - Tiến sĩ Robert Titzer

07:48 |

Robert Titzer là một nhà nghiên cứu trẻ sơ sinh và là người tạo hệ thống Your Baby Can Read (Bé yêu biết đọc) để dạy cho trẻ đọc. Bộ đĩa DVD và cuốn sách "Bé yêu biết đọc" được xuất bản lần đầu vào năm 1997.



Một loạt các phương pháp dựa trên nghiên cứu chính con mình của Titzer, bao gồm cả kinh nghiệm cá nhân giảng dạy các con gái của mình, Aleka (sinh năm 1991) và Keelin (sinh năm 1994).

Theo nghiên cứu trên con của ông, Titzer thấy rằng thời gian tối ưu cho việc học đọc cũng giống như thời gian tối ưu cho việc học ngôn ngữ nói và ngôn ngữ ký hiệu. Ông viết: "Các nghiên cứu từ tất cả các lĩnh vực của ngôn ngữ ... cho thấy rằng tìm hiểu các mô hình của ngôn ngữ ở thời kì đầu dễ dàng hơn so với ở thời kì muộn hơn ở trẻ em mầm non. Trong khi một số người có thể xem đọc là một nhiệm vụ quá phức tạp cho trẻ em, thì Titzer cho biết," Dường như bộ não sẽ phát triển hiệu quả hơn để đọc khi trẻ học đọc sớm trong giai đoạn đầu của lứa tuổi mầm non".

Titzer lưu ý rằng theo một nghiên cứu năm 2002 của Đại học Yale, "Kích hoạt mạch thần kinh của trẻ để học đọc sớm là chìa khóa." Sớm là thế nào? Theo Titzer, "Cửa sổ cho việc học ngôn ngữ bắt đầu gần bốn tuổi." Điều này có nghĩa rằng trẻ em học đọc sau tuổi lên bốn có thể không phát triển các mạch thần kinh lý tưởng cho việc đọc. Tuổi mà tại đó việc dạy đọc bắt đầu có thể chi phối không chỉ là khả năng đọc của đứa trẻ, mà cả thái độ của trẻ. Titzer, nói: "Trẻ em được dạy đọc sớm sẽ thích đọc hơn các trẻ em được dạy ở tuổi lên năm hoặc sau đó."

Học lỏm người Nhật dạy con thông minh

08:47 |

Cha mẹ Nhật rất siêng đọc truyện cổ tích cho con nghe.


Trẻ con Nhật chăm chỉ học tập, khả năng quyết đoán cao và rất gắn bó với gia đình với sự lễ phép, quy củ trong khuôn phép. Sự thành công về kinh tế, kỹ thuật cũng như xã hội phát triển của Nhật đã cho nhân loại nhiều bài học quý giá. Trong đó, sự thành công trong giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ góp phần quan trọng. Mời các gia đình cùng tham khảo và khám phá những nét đặc trưng trong cách dạy con của cha mẹ Nhật.

1. Chú trọng chuyện cổ tích

Cũng như các bậc cha mẹ khác thường kể cho bé nghe những câu chuyện cổ tích và thần tiên. Tuy nhiên, người Nhật tiến thêm một bước nữa khi họ tin rằng chính thế giới thần thoại cùng những điều lạ kỳ và không tưởng ấy chính là chất liệu và niềm cảm hứng cho sự sáng tạo vô biên của đứa trẻ sau này. Hãy thử nhìn vào cuộc sống thường ngày và ta sẽ thấy: trong truyện có thảm thần và ngoài đời chúng ta có máy bay, trong truyện chỉ cần phẩy tay là cửa mở và ngoài đời chúng ta có hệ thống cửa cảm biến,...


 2. Không quy chụp, áp đặt

Đặc biệt, cha mẹ Nhật ít khi quy kết con trẻ như “Con thật lười biếng” hoặc “Sao con lì lợm thế”, bởi họ hiểu tâm lý của trẻ con “Khi bạn mắng con bạn là đồ con lợn 10 lần, chúng sẽ kêu ụt ịt vào lần thứ 11”. Khi dùng những lời lẽ tiêu cực và quy chụp để mắng dạy con, trẻ con sẽ bị giáo dục đúng theo lối bị phủ nhận đó.

Khen con, khen hành vi cụ thể: Nếu chỉ khen “Con tôi giỏi quá” thì sẽ biến trẻ thành tự phụ. Không chỉ là khen trẻ mà cha mẹ Nhật thường khen hành vi mà trẻ đã làm như “Con mẹ tự xúc cơm thật cừ” hay “Ai mà tự thay quần áo giỏi thế nhỉ!”. Khi trẻ được khen về một hành động cụ thể nào đó, chúng sẽ cố gắng làm tốt việc đó ở những lần kế tiếp để lại được cha mẹ hài lòng và khen ngợi.

Cha mẹ Nhật không ngại khen con nhưng họ khen rất cụ thể như “Con đọc chữ này đúng và giỏi quá!”

3. Hầu như không cho con xem TV

Ngoài việc xem TV tốn thời gian và có thể khiến trẻ bị nghiện, cha mẹ Nhật còn ý thức rất rõ việc nếu cho con xem tivi quá sớm và quá nhiều thì cấu trúc của đại não sẽ bị phá vỡ; từ tivi phát ra dòng âm cực sản sinh ra từ điện áp 20,000 volts, gây ảnh hưởng không tốt đến thuỳ não trước (phần tạo ra năng lực suy nghĩ) của con người. Các nhà khoa học Nhật Bản cũng cảnh báo rằng sự tích tụ này trong vài chục năm sau sẽ có thể gây ra bệnh máu trắng cũng như làm tăng chiều hướng của hiện tượng tự kỷ.

“Tắt TV, Bật ý tưởng” là châm ngôn truyền miệng của phụ huynh Nhật

4. Dạy chữ từ sớm
Theo các công trình nghiên cứu của Nhật, việc dạy chữ có thể làm thay đổi chức năng, và dẫn đến cấu tạo não thay đổi theo. Hiện tượng này, trẻ càng nhỏ càng dễ. Khi trẻ nhỏ nhớ chữ, sẽ có được tốt chất cao phi thường. Các bậc cha mẹ ở Nhật quán triệt dạy chữ cho con ngay từ rất sớm do bởi khi mới sinh ra, trẻ chỉ là một động vật nhỏ, nhưng khi hệ tín hiệu ngôn ngữ và học chữ bắt đầu hoạt động, trẻ trở thành con của loài người. Và họ hiểu rằng để hệ tín hiệu ngôn ngữ này hoạt động tốt, trẻ càng học gần với thời điểm mới sinh ra càng có hiệu quả cao.

5. Kiên nhẫn lặp đi lặp lại

Khác với nhiều người có thể bực mình khi trẻ thơ thường hỏi đi hỏi lại một điều ngô nghê, cha mẹ Nhật không ngại giải thích nhiều lần cho con họ ở một vấn đề. Theo họ, để đứa trẻ có thể thành thạo 1 việc thì phải cần ít nhất là 3 tháng. Chẳng hạn, khi trẻ đã nhớ được chữ “a i u e o” thì phải mất ít nhất 3 tháng trẻ mới có thể đọc được chúng thành thạo.

6. Luyện trí nhớ

Không phải ngẫu nhiên mà Nhật Bản có rất nhiều trò chơi trí tuệ phục vụ cho việc luyện trí nhớ cho cả trẻ nhỏ và người lớn. Người Nhật quan niệm, “Người thông minh là người nhớ nhiều hơn người khác và biết cách áp dụng những điều ghi nhớ đó hợp lý”. Do đó theo họ, trí thông minh là thứ có thể luyện tập và có được chứ không phải thuộc về khả năng bẩm sinh.

Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em Nhật đã được tiếp xúc với các trò chơi trí tuệ luyện trí nhớ

7. Vận động đầy đủ

Không chỉ tập trung phát triển trí tuệ, các cha mẹ Nhật cũng rất chú trọng việc rèn luyện thể chất. Ngay từ khi bé chào đời, cha mẹ đã lưu ý giáo dục về tất cả các mặt sức khoẻ, vận động, đạo lý, kỷ luật, tình cảm. Đối với trẻ lên 2, cha mẹ đã cho trẻ đi bộ đều đặn hàng ngày và họ chia nhỏ khỏang cách tập luyện thành những đọan ngắn 10m, 20m mỗi ngày.

“Một trí tuệ minh mẫn trong cơ thể cường tráng”, cha mẹ Nhật hiểu rõ điều này.

8. Thói quen tra cứu, tìm tòi

Cha mẹ đã biết hướng dẫn con mình sử dụng loại từ điển dễ tra cứu dành cho trẻ em. Trẻ dùng từ điển đó để tra nghĩa của từ, hay cách viết đúng chữ Hán. Chẳng hạn, khi biết địa chỉ rồi nhưng được người khác đưa lên xe dẫn đi thì chúng ta cảm thấy rất khó nhớ đường. Nhưng nếu tự dùng bản đồ, rồi vừa đi vừa hỏi đường thì chúng ta sẽ nhớ rất lâu. Cũng tương tự như thế, trẻ con sẽ dễ tiếp nhận kiến thức nếu chúng tự tìm, mất công để tra cứu hơn là được cha mẹ dạy cho một cách thụ động. Ngay cả đối với những trẻ Nhật khó dạy theo cách đơn điệu, thì bằng cách này chúng cũng có thể học được một cách chính xác mà không hề cảm thấy nhàm chán.
Với những phương pháp dạy con tinh tế như thế, ắt hẳn người Nhật cũng sẽ giúp chúng ta có thêm nhiều điều bổ ích để áp dụng cho chính gia đình của mình.

Phương pháp giáo dục trẻ thông minh sớm

08:25 |

Kết hợp Phương pháp “Bé yêu biết đọc” của Tiến sĩ Robert Titzer và “Phương án 0 tuổi” của Giáo sư Phùng Đức Toàn.

Khoa học đã chứng minh, trước 6 tuổi, đại não đã phát triển tương đối hoàn thiện. Do đó, giai đoạn 0 đến 6 tuổi là cơ hội tốt nhất để xây dựng cho trẻ nền tảng phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần. Khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển mỗi ngày, lượng thông tin trong xã hội cũng trở nên tăng vọt, mục tiêu hàng đầu của giáo dục hiện đại không còn gói gọn đơn thuần ở việc dạy trẻ những kiến thức sẵn có, mà chính là dạy trẻ kỹ năng tự học suốt đời. Trẻ có kỹ năng tự học suốt đời sẽ dễ dàng thích nghi, phát triển một cách tích cực và nổi trội trong cuộc sống sau này. Kỹ năng tự học suốt đời thể hiện ở sự đam mê học tập, tò mò, và có óc phân tích. Sách chính là nguồn tài liệu vô tận để trẻ thỏa lòng đam mê, tìm tòi kiến thức mới ngay cả khi trẻ trưởng thành và rời ghế nhà trường.

Phương pháp giáo dục trẻ thông minh sớm giúp trẻ ham thích khám phá, có khả năng đọc sách tốt và nhanh từ khi còn rất nhỏ. Có được kỹ năng đặc biệt này, trẻ sẽ rất có hứng thú và say mê sách, cũng như phát triển nổi trội cả về thể chất lẫn tinh thần so với trẻ em cùng lứa.
Giáo dục thời kì sớm là gì?


Con người là động vật có tinh thần. Não là bộ máy của trí tuệ. Chức năng bộ não được Engels ca ngợi là “loài hoa đẹp nhất trên trái đất”. 0 tuổi (thai nhi) – 6 tuổi là thời kì bộ não phát triển nhanh chóng. Trước thời kì bộ não phát triển, nó là thời kì sớm nhất của con người. Ở thời kì này, chúng ta nên dành cho trẻ sự ảnh hưởng, dẫn dắt, bồi dưỡng khai phá tiềm năng, tức gọi là giáo dục sớm.

Giáo dục sớm là một môn khoa học, hiểu theo ý nghĩa nào đó, cũng có thể là một môn khoa học mới ra đời. Nhất là giáo dục từ lúc thai nhi đến lúc 3 tuổi, cơ hồ nó chỉ cònlà một khoảng không, một khoảng đất hoang chưa khai khẩn, chờ mọi người đi khai khẩn, cày ruộng và làm cỏ.

Giáo dục sớm là một loại khách quan tồn tại. Dù bạn tán thành hay không tán thành, thừa nhận hay không thừa nhận, tin hay không tin, cha mẹ người thân, hoàn cảnh gia đình, và xã hội đều tiến hành một loại giáo dục nào đó đối với thai nhi, trẻ sơ sinh. Không giáo dục là không tồn tại. Do đó, giáo dục sớm là giáo dục được mọi người tham gia và phổ biến nhất, số người tham gia đông nhất, lịch sử giáo dục dài nhất. Đơn giản tiện lợi nhất, đầu tư tiết kiệm nhất. Người khởi xướng “Phương án 0 tuổi”, chính là người có ý thức, tự giác, toàn diện, có khoa học, căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của thai nhi, trẻ sơ sinh, để tiến hành giáo dục sớm, có thể khai thác đầy đủ tiềm năng của trẻ sơ sinh, làm cho bé trưởng thành toàn diện. “Phương án 0 tuổi” chính là lấy lý luận và thành quả thực tiễn của chính mình đề xướng trước mọi người, cải tiến sau mọi người, làm cho nhiều bé nhận được giáo dục tốt đẹp, bồi dưỡng nhiều trí tuệ thiếu nhi, để trở thành nhân tài, xuất hiện nhiều nhân tài, nỗ lực phấn đấu, để đề cao tố chất và sự nỗ lực phấn đầu của toàn bộ nhân loại.

Ý nghĩa của việc giáo dục sớm.

Giáo dục sớm có ý nghĩa đặc biệt với sự trưởng thành của nhân tài, và là một bước đột phá của khoa học giáo dục. Sự giáo dục này thúc đẩy bộ não người tăng trưởng, khiến cho chức năng của bộ não có xu hướng hoàn thiện. Sự giáo dục này khai phá sự tiến hóa của kí ức hàng triệu năm phát triển nhân loại, và kho dự trữ tiềm tàng trong cơ thể. Nó là sự phát triển trí lực của con người vào thời kì tốt nhất. Sự giáo dục thời kì sớm, làm cho trẻ hình thành những tính cách tốt đẹp. Tóm lại, bé là công trình đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển tốt đẹp của nhân tài và đời sống con người.

Phương châm chỉ dẫn của “Phương án 0 tuổi”

Sự phát triển toàn diện sẽ thúc đẩy trẻ sơ sinh phát triển đầy đủ và các cá tính sở trường đặc biệt, làm nên triển vọng kế tiếp, giáo dục khai thác rộng lớn.

Mục tiêu của “Phương án 0 tuổi”

Bồi dưỡng cho trẻ em sự sáng tạo vững chắc, khỏe đẹp, thông minh trí tuệ, tính cách phẩm chất ưu tú, có hứng thú rộng rãi, hoặc biểu hiện sở trường đặc biệt ở một phương diện nào đó. Kích thích sự phát triển kế tiếp và phát triển suốt cuộc đời con người để tạo nên một nền tảng tốt đẹp.

Nguyên tắc giáo dục của “Phương án 0 tuổi”

Tuân theo nguyên tắc khởi đầu từ 0 tuổi, nguyên tắc kích thích sự hứng thú, nguyên tắc chỉ dẫn tiếp tục, nguyên tắc biến khó thành dễ, nguyên tắc học đường và cuộc sống, nguyên tắc giáo dục sớm ở gia đình và nhà trẻ nơi sự giáo dục được coi trọng như nhau.

Nội dung giáo dục của “ Phương án 0 tuổi”

Trong phạm vi tâm sinh lý con trẻ có khả năng kế thừa và phát huy, vì vậy cuộc sống tinh thần của chúng rất phong phú, dưới tiền đề kích phát sự hứng khởi của trẻ, tiến hành giáo dục tùy cơ, không phân biệt khoa học, không giảng giải hệ thống, không chú ý nông sâu, không lập tức cầu  ý giải, cũng không coi trọng kiểu mẫu trường lớp của tài liệu và sự cứng nhắc cố định của việc phân biệt chương mục rõ ràng. “Phương án 0 tuổi” đã đưa ra nội dung tham khảo dạy học đại cương 15 mặt và hơn một trăm mục hoạt động tham khảo. Đây chính là “bộ công cụ ưu việt” để khai mở tiềm năng trí tuệ, tố chất thông minh, tài năng, bồi dưỡng nhân cách cao đẹp cho trẻ từ 0 – 6 tuổi, tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển của nhân tài.

Phương thức giáo dục “Phương án 0 tuổi”

Dạy trẻ từ khi còn là thai nhi, thuấm nhuần hoàn cảnh giáo dục, giáo dục vui chơi trong cuộc sống, giáo dục học đường trong sự hoạt bát, giáo dục tình cảm khoa học.

Nét đặc sắc giáo dục của “Phương án 0 tuổi”

- Đem tính cách, phẩm chất tốt đẹp bồi dưỡng hàng đầu, nuôi dưỡng thành đứa trẻ có tính cách vui vẻ hoạt bát, an tĩnh, chuyên chú, tích cực hướng thượng, dũng cảm tự tin, cần cù lương thiện, ý chí kiên cường, trở thành thiếu nhi có tính độc lập, sáng tạo.

- Biết chữ sớm chọn cách viết chữ thành thạo, vui chơi biết chữ và xem đọc biết chữ, khiến cho trẻ thơ nhận biết được vật. 3, 4 tuổi thoát nạn mù chữ, đi sâu vào việc xem đọc , phổ biến. “Phương án 0 tuổi” cho rằng điều kiện giáo dục như nhau, trẻ thơ học ngôn ngữ thị giác (đọc nhận chữ) và học ngôn ngữ thính giác (nghe và nói) đều dễ như nhau. Từ xưa đến nay, đây là sự biến đổi có ý nghĩa đưa thời đại về thực tiễn và lý luận dạy học biết chữ.

- Tạo điều kiện cho trẻ học ngoại ngữ sớm để trẻ em xem việc học ngoại ngữ cũng như học tiếng mẹ đẻ và trẻ có thể học một cách tự nhiên, chuẩn mực như trẻ học tiếng mẹ đẻ.

- Giáo dục của “Phương án 0 tuổi” là hướng về giáo dục tố chất phổ biến của toàn thể trẻ thơ, không phải là giáo dục vượt cấp, giáo dục thiên tài. Nhưng trên cơ sở phổ biến, những gia  đình và nhà trẻ thực hiện theo “Phương án 0 tuổi” một cách kiên trì, khoa học và sự nghiêm túc tất yếu sẽ xuất hiện hàng loạt nhi đồng thông minh sớm. Đây là điều mà chúng tôi hằng mong đợi, cũng là để chứng minh thực tiễn rằng: mọi đứa trẻ đều là Thần đồng, trẻ không bình thường cũng là Thần đồng nếu có phương pháp giáo dục ưu việt để khai mở tiềm năng trí tuệ thiên bẩm vốn có của mỗi con trẻ. Vì vậy, “Phương án 0 tuổi” coi trọng và động viên phát triển sở trường đặc biệt của trẻ thơ, cho trẻ học vượt, nâng cao vượt cấp. “Phương án” cho rằng, thiếu nhi đồng sớm thông minh có nhiều hình thức như: hình thức ca múa dưới trăng, hình thức tăng cường, hình thức sở trường đặc biệt v.v…, chúng đều là những nhân tài mầm non có tố chất cao. Cho đến nay “Phương án 0 tuổi” đã cho ra đời vài ngàn trẻ thơ thông minh tài năng, đặc biệt trong đó có nhiều tài năng được coi là xuất chúng, hiếm có của nhân loại từ xưa đến nay!

Phương pháp giáo dục của “Phương án 0 tuổi”

Dạy trong linh hoạt, học trong trò chơi, người dạy có  ý mà người học vô ý; trong lúc chơi có học, và trong học hành có chơi; bé tự quen với môi trường và người lớn làm gương dẫn dắt; tích cực ám chỉ, chú trọng khích lệ; phải yêu thương dạy dỗ, nhưng không thể quá nuông chiều; chú ý thái độ yêu thương để khống chế tâm tự, phải nuôi dưỡng trẻ có thói quen hình thành tính cách nhất định v.v… Cần phải để con cái học và chơi trong tâm trạng vừa cười vừa nói, vừa thương lượng vừa bàn bạc, vừa có động lại vừa có tĩnh, vừa có câu hỏi lại vừa có câu trả lời, đồng thời nâng cao trí lực cho trẻ, nhất định phải có phẩm chất tâm lý trí lực.

“Phương án 0 tuổi” phản đối việc giáo dục trẻ sơ sinh hoặc giáo dục thời kì sớm mà nói thành “giáo dục trước tuổi đi học”

Vì điều này, dễ dàng khiến người ta hiểu sai là đứa trẻ vẫn chưa đến tuổi đi học, hơn nữa “học trước” và “dạy dỗ” là tự mâu thuẫn với nhau. “Phương án 0 tuổi” vẫn cho rằng nhà trẻ truyền thống phải thay đổi các xu hướng “chăm sóc hóa”, “tiểu học hóa” và “quí tộc hóa” đang ngày càng trở nên phổ biến, nó sẽ làm hạn chế sự phát triển đầy đủ các tố chất và sự hồn nhiên vốn có của trẻ thơ.

Dựa theo lý luận của “Phương án 0 tuổi”

Học thuyết về sự phát triển sớm nhất và tiềm năng lớn của con người là dựa theo nhân chủng học của “Phương án 0 tuổi”; học thuyết phát triển kích thích thông tin bên ngoài, và hiện tượng phát triển đầy đủ nhất trong các cơ quan của cơ thể ở bộ não con người, là sinh lý học của “Phương án 0 tuổi”. Năng lực thích ứng đặc biệt của trẻ sơ sinh để đạt được những đặc điểm tâm lý như mẫn cảm, ghi nhớ ấn tượng, hiểu được tình cảnh, bản năng bắt chước, hoạt động hứng thú, tìm tòi vô ý thức v.v… là dựa theo tâm lý học của “Phương án 0 tuổi”. Giáo dục không những thúc đẩy nhi đồng phát triển mà còn chống lại suy nghĩ tiêu cực là đợi đến con cái phát triển đầy đủ mới dạy dỗ, cùng với học thuyết giáo dục tố chất là dựa theo giáo dục học của “Phương án 0 tuổi”.

Giáo dục kế tiếp  của “Phương án 0 tuổi”

Giáo dục kế tiếp của “Phương án 0 tuổi” cũng rất quan trọng nên phải đi vào quỹ đạo giáo dục tiểu học, trung học với chất lượng cao, mới có thể làm cho tố chất cơ bản của trẻ thơ được khai phá đạt đến sự phát triển tốt hơn. Giáo dục thời kì sớm là nguồn gốc và cơ sở giáo dục siêu thường. Khi giáo dục thời kì sớm được phổ cập thì giáo dục siêu thường cũng phát triển theo và sẽ thay thế giáo dục phổ thông. Điều này cần phải có sự phấn đấu và sáng tạo của các thế hệ sau.

Lý tưởng cuối cùng của “Phương án 0 tuổi”

Thực hiện giáo dục thời kì sớm để hướng tới hiện đại hóa, hướng tới thế giới và hướng tới mục tiêu chiến lược sau này, biến gánh nặng dân số của nước ta thành nguồn tài nguyên trí lực vô tận, biến vấn đề nuôi dậy con cái khó khăn vất vả thành niềm hạnh phúc vô bờ bến, đồng thời thúc đẩy biến đổi lớn về tư tưởng giáo dục và thể chế giáo dục.

Chia sẻ và cung cấp những thông tin chính xác nhất về giáo dục sớm | Là một trang đáng tin cậy nhất trong lĩnh vực này

Được tạo bởi Blogger.